banner

Quy định của pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận

14/10/2019

Sau đây công ty luật FBLAW chúng tôi xin tư vấn cho quý khách về Quy định của pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận như sau:

1 Tổng quan về tài sản (TS) nói chung

 Khái niệm về “Chế độ tài sản (CĐTS) của vợ chồng” :

Trong pháp luật của Nhà nước ta, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm về CĐTS của vợ chồng được quy định trong một văn bản cụ thể của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng theo các nhà luật gia thì có thể hiểu:

CĐTS của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) TS của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập TS, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với TS chung, TS riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia TS giữa vợ và chồng.

Nói đến CĐTS vợ chồng là nói đến vấn đề sở hữu đối với TS của vợ và chồng, và chỉ tồn tại trong thời kì hôn nhân (từ khi kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt).

 Về hình thức pháp lí, CĐTS vợ chồng có 2 loại:

+ CĐTS pháp định (CĐTS theo luật định) là CĐTS mà ở đó pháp luật đề ra các hình thức xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối TS của họ, cụ thể là pháp luật đã dự liệu về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại TS, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại TS, các trường hợp và nguyên tắc chia TS của vợ chồng.

Đây là CĐTS duy nhất được pháp luật Việt Nam thừa nhận trong Luật HN&GĐ năm 1959, 1987 và Luật năm 2000; vợ chồng không thể thỏa thuận để xác lập một CĐTS khác trong hôn nhân. CĐTS pháp định được pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới dự liệu.

+ Luật HN&GĐ năm 2014 với hàng loạt những thay đổi quan trọng, mà sự thay đổi có thể nói mang tính cách mạng nhất là sự ghi nhận CĐTS thỏa thuận.
CĐTS thỏa thuận là tập hợp các quy tắc do chính vợ, chồng xây dựng nên một cách hệ thống trên cơ sở sự cho phép của pháp luật để thay thế cho CĐTS luật định nhằm điều chỉnh quan hệ TS của vợ chồng.
=> Vợ chồng có thể lựa chọn một trong các CĐTS do pháp luật quy định hoặc tự thiết lập một chế độ riêng với điều kiện không trái với pháp luật.

2 Khái niệm, đặc điểm

2.1 Khái niệm

 “CĐTS thỏa thuận” là việc vợ chồng tự thỏa thuận về việc xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với TS của họ, là chế định mà trong đó thành phần các loại TS, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại TS, các trường hợp và nguyên tắc chia TS của vợ chồng do vợ chồng tự thỏa thuận với nhau.
 Nó được hiểu dưới nhiều tên gọi khác nhau như: “hôn ước”, “hợp đồng tiền hôn nhân” hay “thỏa thuận trước hôn nhân”…
 Các quy định về CĐTS thỏa thuận của vợ chồng hiện nay khá khiêm tốn, chỉ gói gọn trong các Điều 47, 48, 49, 50 và 59 Luật HN&GĐ năm 2014.

Ngoài ra, CĐTS này cũng được hướng dẫn bởi 4 điều (Điều 15, 16, 17, 18) của Nghị định số 126/CP của Chính phủ ban hành ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ năm 2014.

Và một số hướng dẫn cụ thể trong Thông tư liên tịch số 01/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2014. Các quy định này đề cập đến các khía cạnh của CĐTS thỏa thuận (như: việc xác lập CĐTS, sửa đổi CĐTS, tuyên bố vô hiệu và chấm dứt CĐTS).

 Đây là quy định rất đặc biệt và mới của LHN&GĐ năm 2014.

1.2.2 Đặc điểm

* Đặc điểm chung:

CĐTS thỏa thuận vốn là một trong các loại CĐTS vậy nên nó có các đặc điểm chung mà CĐTS nào cũng có. Vợ, chồng với tư cách là công dân, vừa là chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu của mình tham gia các giao dịch dân sự.

Nên CĐTS của vợ chồng có một số đặc điểm sau:

 Thứ nhất, xét về chủ thể của quan hệ sở hữu trong CĐTS, thì các bên phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau. Do vậy, để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các chủ thể ngoài việc có đầy đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, còn đòi hỏi họ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định tại Khoản 1 Điều 8 L.HN&GĐ năm 2014.

 Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, nhà nước bằng pháp luật quy định CĐTS của vợ chồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ và chồng. Những quy định của pháp luật về CĐTS của vợ chồng là cơ sở tạo điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với TS của vợ chồng.

 Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt CĐTS này phụ thuộc vào sự phát sinh, chấm dứt của quan hệ hôn nhân hay nói cách khác, CĐTS của vợ chồng thường chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.

*Đặc điểm riêng

Ngoài các đặc điểm chung trên, CĐTS thỏa thuận hay còn gọi là “hôn ước” còn có các đặc điểm tạo nên sự khác biệt với CĐTS khác, làm nên dấu ấn riêng của nó. Đó là:

 Hôn ước phải do hai bên nam nữ tự nguyện thỏa thuận.
 Hôn ước phải được lập trước khi kết hôn, tuy nhiên nó chỉ phát sinh hiệu
lực trong thời kì hôn nhân.
 Hôn ước phải được xác nhận tính hợp pháp bởi cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.

3 Một số quy định của pháp luật có liên quan

3.1 Thủ tục

Xác định TS của vợ chồng dựa trên cơ sở hôn ước được xuất phát từ quan niệm của nhà làm luật ở các nước phương Tây. Theo họ, hôn nhân thực chất là một loại hợp đồng dân sự, hôn nhân chỉ khác với các loại hợp đồng dân sự thông thường khác ở tính chất “long trọng” trong thiết lập và trong việc chấm dứt.

Bên cạnh đó, nhà làm luật ở các nước phương tây cũng đề cao quyền tự do cá nhân, quyền tự định đoạt đối với TS của vợ, chồng. Với quan niệm trên, tự do lập hôn ước đã trở thành một nguyên tắc và là giải pháp đầu tiên khi quy định CĐTS của vợ chồng trong pháp luật về HN&GĐ ở hầu hết các nước phương Tây.

Theo nguyên tắc trên, trước khi kết hôn vợ chồng hoàn toàn có quyền tự do lập hôn ước để qui định CĐTS của họ. Họ muốn lựa chọn CĐTS nào cũng được, pháp luật chỉ can thiệp và quy định CĐTS của vợ chồng khi họ không lập hôn ước. Điều 755 và Điều 756 Bộ Luật Dân sự Nhật Bản, Điều 1465 Bộ Luật Dân sự và thương mại Thái Lan, Điều 1387 Bộ Luật Dân sự Cộng hoà Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965)… đều qui định: Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước, miễn là những thoả thuận trong hôn ước không trái với thuần phong mỹ tục hoặc không trái với các quy định của pháp luật về điều kiện thừa nhận tính hợp pháp của hôn ước.

Đối với pháp luật về HN&GĐ Việt Nam, có một điểm đáng chú ý là CĐTS theo thỏa thuận chỉ áp dụng đối với các cuộc hôn nhân kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 – ngày L.HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thi hành.

Theo Điều 47: Thỏa thuận xác lập CĐTS của vợ chồng

“Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn CĐTS theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.”

a.Thời điểm:

 Theo đó, để đảm bảo phát sinh hiệu lực, việc lập hôn ước phải do hai bên nam nữ thỏa thuận và phải được lập ra trước khi kết hôn. Và hôn ước chỉ có giá trị kể từ khi hai bên nam nữ trở thành vợ chồng hợp pháp hay từ ngày đăng ký kết hôn.
 VD: A và B trước khi kết hôn đã làm 1 văn bản công chứng trong đó thỏa thuận cái này là chung, cái kia là riêng. Trong trường hợp này văn bản thỏa thuận sẽ có hiệu lực từ thởi điểm họ kết hôn với nhau và bắt đầu sẽ áp dụng theo thỏa thuận họ đã thỏa thuận trước khi kết hôn.
 Trường hợp CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì khi xác lập, thực hiện giao dịch vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan; nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được coi là ngay tình và được bảo vệ quyền lợi theo quy định của Bộ luật Dân sự.

b. Hình thức

Dù tồn tại dưới tên gọi nào thì nhìn chung hầu hết các quốc gia đều qui định thỏa thuận của vợ chồng phải được viết thành văn bản và có chữ ký của hai bên. Điều này thể hiện sự tự nguyện và ý chí của họ khi thỏa thuận vấn đề liên quan.

 Tại Việt Nam, cũng như đa số quốc gia khác, hôn ước phải được lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Việc qui định như vậy làm tăng thêm tính chặt chẽ của hôn ước và giúp chúng ta kiểm soát được tính xác thực và tự nguyện của các hôn ước, tránh những xung đột, tranh chấp liên quan đến hôn ước sau này.

3.2 Nội dung

Nhìn chung, khi chấp nhận CĐTS vợ chồng theo thỏa thuận, nhà làm luật thường chỉ qui định chặt chẽ mặt hình thức, phần nội dung do vợ chồng tự do lựa chọn miễn là không trái với qui định của pháp luật.
 Từ sự học hỏi kinh nghiệm, tại Khoản 1 Điều 48 L.HN&GĐ năm 2014 quy định. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bao gồm:
“a) TS được xác định là TS chung, TS riêng của vợ, chồng;
b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với TS chung, TS riêng và giao dịch có liên quan; TS để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia TS khi chấm dứt CĐTS;
d) Nội dung khác có liên quan.”

Ta có thể hiểu, trong hôn ước, vợ chồng tối thiểu phải thỏa thuận về phương thức hay qui định về việc xác định TS chung, TS riêng của mình. Những thỏa thuận trong hôn ước không được trái với trật tự công cộng và đạo đức xã hội. Trong hôn ước vợ chồng chỉ có thể thỏa thuận về vấn đề TS và không thể thỏa thuận hay làm khác đi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng hay các quan hệ nhân thân khác đã được pháp luật quy định.

 Về việc “xác định TS của vợ chồng theo thỏa thuận” được quy định tại Điều 15 NĐ 126/2014 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành L.HN&GĐ.

Trường hợp lựa chọn áp dụng CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định TS theo một trong các nội dung sau đây:

a) TS giữa vợ và chồng bao gồm TS chung và TS riêng của vợ, chồng;
b) Giữa vợ và chồng không có TS riêng của vợ, chồng mà tất cả TS do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc TS chung;
c) Giữa vợ và chồng không có TS chung mà tất cả TS do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được TS đó;
d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.”

 Như vậy nguyên tắc tự do thỏa thuận về TS của vợ chồng đã được ưu tiên, tuy nhiên nội dung của nó phải phù hợp với quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của L.HN&GĐ năm 2014.

 VD: Thỏa thuận toàn bộ tiền lương của ông chồng là của ông chồng, lương của bà vợ là của bà vợ. Tuy nhiên, họ phải thỏa thuận được những cái tài sản nào là để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (khoản 2 Điều 29). Chứ không thể thỏa thuận là tôi với anh lấy nhau cho xong thì của ai làm ra là riêng. Anh ốm thì anh tự bỏ tiền ra mà lo, tôi ốm thì tôi cũng tự bỏ tiền ra tôi lo cho tôi, anh không cần phải có trách nhiệm.

Chúng ta lưu ý rằng, tất cả nhu cầu thiết yếu của gia đình thì không phụ thuộc vào tài sản riêng hay chung. Trường hợp này bà vợ vẫn phải dùng tài sản của mình để chăm lo cho đời sống chung của gia đình.

 Nếu vi phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của này. Khi thực hiện “hợp đồng tiền hôn nhân” mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng của CĐTS theo luật định.

Từ đó cho thấy các nhà làm luật trong nước vừa tiếp thu học hỏi kinh nghiệm pháp luật của các quốc gia trên thế giới, vừa nghiên cứu sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của nước nhà, nhất là khi vẫn còn có ý kiến khác nhau về vấn đề này.

3.3 Sửa đổi, bổ sung

a.Sửa đổi, bổ sung nội dung hôn ước

Việc thay đổi hay chấm dứt hiệu lực của hôn ước phải theo một thể thức nhất định, việc thay đổi thường được tiến hành theo hình thức lập hôn ước. Trước đây hôn ước là bất di bất dịch tuy nhiên qui định này đã trở nên lỗi thời, hiện nay các quốc gia cho phép vợ chồng thay đổi hoặc hủy bỏ hôn ước nhưng thường đặt điều kiện về thời gian có hiệu lực của hôn ước trước hoặc điều kiện về hình thức, về sự phê chuẩn.

 Với sự thừa nhận các thoả thuận trong hôn ước có thể thay đổi trong thời kỳ hôn nhân, việc sửa đổi, bổ sung nội dung này được quy định tại Điều 49 L.HN&GĐ Việt Nam năm 2014.

“1. Vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về CĐTS.”
“2. Hình thức sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về CĐTS theo thỏa thuận được áp dụng theo quy định tại Điều 47 của Luật này.”

(phải được công chứng hoặc chứng thực)
Sau khi vợ chồng kết hôn xong mà vợ chồng cảm thấy không hợp lý thì vợ chồng có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần hay toàn bộ nội dung. Thậm chí nếu thấy theo luật định hay hơn thì vẫn có thể thỏa thuận lại rằng sẽ áp dụng giống như là luật định. Họ được “thỏa thuận áp dụng CĐTS theo luật định” chứ không phải “áp dụng CĐTS theo luật định”; vì 1 nguyên tắc là khi lựa chọn 1 CĐTS thì họ sẽ không được lựa chọn lại.

 VD: Khi không áp dụng CĐTS theo thỏa thuận thì họ sẽ được áp dụng CĐTS theo luật định và trong thời kỳ hôn nhân họ không được chuyển sang CĐTS theo thỏa thuận. Ngược lại khi họ đã thỏa thuận áp dụng CĐTS theo thỏa thuận thì sẽ không được chuyển sang CĐTS theo luật định, nhưng họ có quyền thỏa thuận về TS giống như CĐTS theo luật định.

Quy định này là hoàn toàn phù hợp, đã cứu nguy cho các cặp vợ chồng lỡ chọn lầm một CĐTS hoàn toàn không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình, thu nhập; hoặc, CĐTS mà vợ chồng lựa chọn chỉ phù hợp ở giai đoạn đầu, còn sau đó lại cản trở việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của họ, cũng như lợi ích của gia đình.

 Thay đổi cho phù hợp với thực tế tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt TS giữa vợ và chồng, tuy nhiên trong pháp luật Việt Nam hiện hành chưa đặt điều kiện về thời gian có hiệu lực của hôn ước trước.

 VD: ở Pháp sau 2 năm áp dụng CĐTS thoả thuận thì mới được phép thay đổi hôn ước đã lập trước đó. Theo 1 số bang của Hoa Kỳ là 1,5 năm áp dụng.

Theo quan điểm cá nhân, tôi thiết nghĩ nên quy định thêm về thời gian cho vấn đề này. “Hôn ước trước” phải có hiệu lực từ 1 đến 2 năm, sau đó nếu thấy không phù hợp thì mới có quyền yêu cầu sửa đổi, bổ sung.

Thực tế các cặp vợ chồng trẻ thường rất hay giận hờn nhau “vô cớ”, những người “trẻ con” tháng vài tháng thay đổi hôn ước một lần là có thể xảy ra, điều đó sẽ làm mất tính ổn định cao của CĐTS thỏa thuận cũng như hạ thấp giá trị của pháp luật. Hi vọng trong tương lai gần chúng ta sẽ thấy những điều kiện pháp lý chặt chẽ hơn về chế định TS này.

b. Hậu quả của việc sửa đổi, bổ sung nội dung của CĐTS của vợ chồng ( Điều 18, NĐ 126)

“1. Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của CĐTS của vợ chồng có hiệu lực từ ngày được công chứng hoặc chứng thực. Vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan theo quy định tại Điều 16 của Nghị định này.
2. Quyền, nghĩa vụ về TS phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung CĐTS của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”

3.4 Trường hợp vô hiệu

Cơ sở pháp lý: Điều 50 L.HN&GĐ năm 2014; Điều 5, Điều 6 TTLT số 01/2016 Hướng dẫn thi hành một số quy định của L.HN&GĐ. Đây cũng là giới hạn cho CĐTS thỏa thuận mà vợ chồng cần lưu ý.

 Theo Điều 50 quy định Thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;

 VD: Các trường hợp một trong hai bên vợ chồng chưa đủ tuổi kết hôn hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự ở thời điểm xác lập thỏa thuận; một hoặc hai bên ở trong tình trạng không có sự tự nguyện (bị đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn) khi thỏa thuận. Việc kết hôn sẽ bị tuyên bố hủy thì thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng cũng bị tuyên bố vô hiệu theo.

b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;

 VD: Nếu trong thỏa thuận về CĐTS giữa vợ và chồng có quy định cho rằng “Trong thời kỳ hôn nhân chỉ có người chồng có nghĩa vụ đóng góp thu nhập duy trì đời sống chung của gia đình” thì thỏa thuận đó sẽ vô hiệu. Vì vi phạm nguyên tắc tại Điều 30 về Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.
Trên thực tế các thỏa thuận giữa vợ và chồng về CĐTS có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lợi của các chủ thể có liên quan trong cấp dưỡng hoặc thừa kế,…

 VD1: Ông A đang có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Sau đó ông A kết hôn với bà C và thỏa thuận chuyển giao toàn bộ TS của mình cho bà C, (nhằm trốn tránh), do đó không còn TS để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Trong trường hợp này thỏa thuận về TS giữa ông A và bà C bị vô hiệu vì vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng của anh B.

 VD2: Anh A có con là C đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Sau đó, anh A kết hôn với chị B. Anh A và chị B đã thỏa thuận xác lập CĐTS của vợ chồng, trong đó có nội dung toàn bộ TS của anh A sẽ do chị B thừa hưởng khi anh A chết. Trong trường hợp này, nội dung thỏa thuận về CĐTS giữa anh A và chị B bị vô hiệu đối với phần TS của anh A mà C (người con bị mất năng lực hành vi dân sự) được thừa kế theo quy định của pháp luật.

 Thỏa thuận về hôn ước có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần.

a) Trường hợp thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì CĐTS của vợ chồng theo luật định được áp dụng.
b) Trường hợp thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về CĐTS của vợ chồng theo luật định được áp dụng.

 Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng bị vô hiệu được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

 4. Nhận xét, đánh giá

* Với câu hỏi hôn ước đã từng được công nhận ở Việt Nam hay chưa?

Trong L.HN&GĐ Việt Nam năm 1959, 1986 và 2000, pháp luật chỉ công nhận duy nhất CĐTS pháp định. Tuy nhiên trong thời gian đất nước chưa thống nhất, hôn ước vẫn được công nhân ở Việt Nam tại các bộ luật dân sự Bắc Kỳ,
Trung Kỳ và Nam Kỳ, dân luật Nam Kỳ năm 1972, thậm chí kể cả sắc lệnh … ở miền Bắc cũng không đề cập gì đến việc bãi bỏ hiệu lực của chế định này. Tuy nhiên việc ghi nhận hôn khế trong các văn bản đó là do ảnh hưởng của dân luật Pháp chứ cũng không do sự biến đổi nội tại của xã hội Việt Nam.

Từ ngày 01/01/2015, L.HN&GĐ năm 2014 chính thức có hiệu lực và là văn bản đầu tiên của pháp luật nước ta hiện nay chính thức ghi nhận hiệu lực của CĐTS thỏa thuận. Một sự đột phá trong nhận thức và hành động. Qua sự phân tích và so sánh với các chế định của các quốc gia trên thế giới cho thấy, các nhà làm luật Việt Nam đã có sự chọn lọc và tiếp thu điểm tiến bộ của lập pháp nhân loại, đồng thời xét tới sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa để đưa ra chế định phù hợp nhất.

Trên đây là tư vấn của Công ty luật FBLAW chúng tôi về Quy định của pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận. Hỗ trợ tối đa cho khách hàng tại Nghệ An cũng như trên cả nước tất cả các vấn đề về hôn nhân gia đình.

Còn chần chừ gì nữa hay đến với FBLAW chúng tôi để được tư vấn nhanh chóng và hiệu quả nhất!